Lớp 9Tài Nguyên Học Tập

Viết bài tập làm văn số 7 lớp 9 đề 1 trang 79 bài 1: Phân tích các tầng nghĩa trong đoạn thơ

Viết bài tập làm văn số 7 lớp 9 đề 1 trang 79 bài 1: Phân tích các tầng nghĩa trong đoạn thơ

Bài tập làm văn số 7 lớp 9 đề 1: Phân tích các tầng nghĩa trong đoạn thơ

Viết bài tập làm văn số 7 lớp 9 đề 1 trang 79 bài 1: Phân tích các tầng nghĩa trong đoạn thơ được THCS Thành Công sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải và tham khảo

Viết bài tập làm văn số 7 lớp 9 – Nghị luận văn học

Suy nghĩ của em về nhân vật chị Dậu qua đoạn trích Tức nước vỡ bờ (tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố)

Bạn đang xem: Viết bài tập làm văn số 7 lớp 9 đề 1 trang 79 bài 1: Phân tích các tầng nghĩa trong đoạn thơ

Lấy nhan đề “Tình người trong chiếc lá”, em hãy viết bài nêu suy nghĩ của mình về đoạn trích truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O Hen-ri

Phân tích các tầng nghĩa trong đoạn thơ sau:

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan

Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?

Đâu những bình minh cây xanh nắng gội.

Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?

Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt

Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?

– Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

(Thế Lữ, Nhớ rừng)

Bài tham khảo 1

Thế Lữ là một nhà văn nhưng trước hết ông là một ngôi sao sáng nhất trong phong trào Thơ mới. Bài thơ Nhớ rừng là một tác phẩm đặc sắc của ông. Bài thơ là cả một không gian thiên nhiên trong vườn bách thú, bề ngoài tưởng như hoành tráng, lớn lao, phi thường nhưng thực chất chỉ là giả dối và tầm thường. Thông qua lời con hổ bị nhốt trong vườn bách thú, Thế Lữ muốn bộc lộ tâm trạng chán ghét cuộc sống thực tại, khát khao cuộc sống tự do cũng là thể hiện lòng yêu nước một cách thầm kín của ông. Và có một đoạn thơ là những kỉ niệm đẹp đẽ về một thời tự do, huy hoàng cùng với khát vọng tự do cháy bỏng của con hổ cũng như của nhà thơ.

Đoạn thơ ấy mở đầu bằng dòng hồi tưởng:

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan

Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?

Đâu những bình minh cây xanh nắng gội.

Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?

Ở đời không có gì quý bằng tự do, vậy mà giờ đây chúa tể của muôn loài lại bị nhốt trong cũi sắt. Những đêm vàng bên bờ suối, những cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng sau cơn mưa, hay những buổi bình minh luôn huyền ảo khiến ta chìm vào trong giấc ngủ êm đềm nay không còn nữa. Giờ đây những thứ đó chỉ còn là kỉ niệm, là dĩ vãng một thời huy hoàng. Mỗi thời điểm được gắn với một hình ảnh đặc trưng tạo nên một bức tranh lộng lẫy. Tự do có ở mọi lúc, mọi nơi: Khi bên bờ suối vào những đêm trăng ánh vàng rực rỡ, hay những ngày mưa xối xả bốn phương ngàn và cả những buổi bình minh đầy nắng ấm.

Nhưng tất cả giờ đây là dĩ vãng:

Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt

Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?

Kí ức oai hùng của những buổi săn mồi đã hiện về quanh chúa sơn lâm. Những cảnh vật ở trong rừng tưởng như một giấc mơ, nơi ấy chính là nơi chúa sơn lâm đã ngự trị. Đoạn thơ phát huy tối đa phép điệp từ, nhạc điệu du dương cùng những câu hỏi tu từ liên tiếp đã làm nổi bật lên tâm trạng nhớ rừng da diết của chúa sơn lâm. Nhớ buồn về thời oanh liệt đã qua.

Con hổ đang sống trong một không gian bao la, tha hồ vùng vẫy với những buổi chiều đầy chiến tích. Nhưng thật đau đớn, xót xa khi giờ đây nó chỉ còn là kỉ niệm. Những cánh rừng bao la, mênh mông nay chỉ là một chiếc cũi sắt cùng với thiên nhiên mà con người tạo ra thật nhàm chán và vô vị.

Hiện thực phũ phàng đã nuốt đi quá khứ êm đẹp của một thời oanh liệt. Nỗi buồn, nỗi bất lực, uất hận đã kết thành tiếng than xé lòng:

– Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

Tiếng than như xoáy sầu vào lòng người đọc. Con hổ hay chính Thế Lữ đang chán ngán cuộc sống thiếu thốn tự do? ông khao khát tự do, đó là niềm khao khát cháy bỏng của một người dân mất nước.

Cảnh rừng, vườn bách thú chính là bộ mặt của xã hội Thế Lữ. Sự giả dối vô nhân đạo được bọc bên ngoài lớp vỏ đẹp đẽ, phi thường, lớn lao. Hào nhoáng chỉ là cái mẽ bề ngoài; còn bên trong là đô hộ, là tù hãm, là nô lệ.

Xuyên suốt đoạn thơ là tâm trạng hoài cổ, nhớ về những tháng ngày oai hùng, những tháng ngày tràn ngập tự do, niềm vui và hạnh phúc đã qua. Nhưng không bằng lòng với thực tại, hổ luôn mong muốn được về rừng cũng như muôn triệu người Việt Nam luôn khát khao thoát khỏi kiếp người nô lệ.

Bài tham khảo 2

Thế Lữ được biết đến vai trò như “người đặt viên gạch đầu tiên cho phong trào thơ Mới”. Thơ ông như một luồng gió lạ, khiến cho người ta say mê vẻ đẹp của cuộc sống, biết hi vọng vào cái sáng lạn của cuộc đời. Thế mới biết hết cái uy phong của một “viên tướng đội quân Việt Ngữ” lẫm liệt biết chừng nào! Cái uy phong của “ngôi sao Mới” ấy đã thể hiện rõ trong bài thơ “Nhớ rừng” – một thi phẩm nổi tiếng của ông.

Nếu hồn thơ Thế Lữ là “cây đàn muôn điệu” thì Nhớ rừng chính là điệu thơ nổi bật nhất của ông. Giọng điệu bao trùm thi phẩm là sự bi tráng là “khúc trường ca dữ dội” nói lên bi kịch của cả một thời đại. Bài thơ dựng lên hai khoảng không gian đối lập: Sự hùng vĩ của thiên nhiên và sự tù túng chật hẹp của vườn bách thú nơi con hổ đang sống. Nét bút lãng mạn của Thế Lữ đã nâng sự đối lập đầy tính bi kịch đó lên để tạo nên âm hưởng hào sảng kì vĩ cho bài thơ, nổi bật là hình ảnh bộ tranh tứ bình tinh xảo và độc đáo.

Đầu tiên là bức tranh rừng núi trong đêm:

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan.

Một “đêm vàng” bên bờ suối, hình ảnh ẩn dụ ở đây thật lộng lẫy và huyền ảo. Nhà thơ không nói đêm trăng mà nói “đêm vàng” khiến cho cảnh vật trở nên huy hoàng rực rỡ hơn bao giờ hết. Ánh trăng chiếu xuống khu rừng làm cho mọi cảnh vật trở nên lung linh và nhuộm một sắc vàng óng lấp lánh. Tưởng như trên thế gian này có bao nhiêu vàng bạc, trời hút lên rồi trút xuống khu rừng. “Uống ánh trăng tan” cũng là một hình ảnh ẩn dụ đẹp. Ánh trăng chiếu xuống mặt nước, mặt nước lung linh hình bóng trăng và ánh trăng dường như tan ra trong dòng nước, nó loang ra, trải dài trên mặt nước mênh mông bát ngát, lấp lánh kì ảo. Con hổ uống nước suối mà như uống ánh trăng trong cơn say mồi. Hình ảnh này gợi ta nhớ đến câu ca dao cổ:

Hỡi cô tát nước bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

Thế Lữ đã thổi hồn thi sĩ vào trái tim con mãnh chúa, nếu không như thế thì làm gì có “đêm vàng”, làm gì có “uống ánh trăng tan”. Thiên nhiên đẹp và quyến rũ quá làm cho giá trị của buổi đêm hôm ấy dường như tăng gấp lên bội phần, càng làm cho vị chúa tể thêm mơ màng, say sưa trong giấc mộng.

Tiếp theo là bức tranh về mưa rừng. Con hổ với sự trầm mặc của một nhà hiền triết, lặng ngắm nhìn “giang sơn” mà hổ bá chủ. Những trận mưa dội xuống làm tươi mát cả khu rừng, cả rừng núi như thay đổi một sức sống mới dạt dào, tràn trề hơn bao giờ hết. Có một cái gì đó rất trong trẻo tinh khôi hiện lên trong hình ảnh câu thơ này. Con thú giờ đây không còn là một thi sĩ nữa mà còn cả cái nhìn của một triết gia, một nhà thông thái. Bức tranh này mang vẻ đẹp của sự nhẹ nhàng thanh khiết và tinh tế đến kì lạ. Cùng với bức tranh thứ nhất, nó giúp ta hiểu được sự muôn hình muôn vẻ của thiên nhiên hằng lưu dấu vết trong tâm hồn con hổ.

Từ vai trò của một vị đế vương mà giang sơn là cả núi rừng mênh mông và thăm thẳm. Buổi bình minh ở chốn hoang dã tươi rói sắc màu và thánh thót, du dương âm thanh của muôn thú trong con mắt của vị chúa sơn lâm. Trên ngai vàng ngự trị, hổ ta từ từ thưởng thức cái thú vui tiệc rượi của một đấng “quân vương” với cảnh bình minh cây xanh làm màn che trướng rủ, chim chóc trong rừng là những cung nữ chuyên phục vụ vị chúa oai linh bằng những điệu múa uyển chuyển và tiếng ca réo rắt say mê, tất cả từ từ đưa vị chúa sơn lâm vào giấc ngủ dịu ngọt. Nền tranh rạng rỡ bởi sắc màu của ánh bình minh, bởi cỏ hoa hương rừng ngan ngát. Mỗi vẻ đẹp ở đây đẹp thấm đẫm hơi thở tự do làm cho bậc “quân vương” say đắm mê mẩn đến ngẩn ngơ.

Mời các bạn tham khảo tài liệu liên quan

Vẻ đẹp mộng mơ và ý nghĩa sâu sắc của bài thơ Mây và Sóng của Ta-go

Viết bài tập làm văn số 7: Bài thơ Tức cảnh Pác Bó của Hồ Chí Minh

Trình bày suy nghĩ của em về khổ thơ kết thúc bài Ánh trăng của Nguyễn Duy

Viết bài tập làm văn số 7: Hình ảnh bếp lửa trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt

Đăng bởi: THCS Thành Công

Chuyên mục: Tài Nguyên Học Tập, Lớp 9

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!